|
Trong suốt chiều
dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đă trả qua không biết bao nhiêu cuộc
chiến chống ngoại xâm từ những năm c̣n Bắc thuộc cho đến về sau ngay
cả khi đă chính thức xưng độc lập thành một quốc gia đế đến ngày hôm
nay chúng ta có được mảnh đất mang tên Việt Nam để tự hào, để thương
và để nhớ.
Trong thời phong
kiến, khi đất nước trong giai đoạn thanh b́nh, thân phận nhỏ nhoi
của người phụ nữ vẫn là đề tài được nhắc đến nhiều trong ca dao,
trong văn học. Khi đất nước lâm vào cảnh ngoại xâm, loạn lạc th́ hơn
ai hết những người phụ nữ - không riêng ǵ những người ‘tay lấm chân
bùn’ mà đến những vị công chúa, tiểu thư - vẫn phải chịu nhiều thiệt
tḥi, mất mác. Công chúa An Tư – con gái Út vua Trần Thái Tông là
một trong những nhân vật lịch sử đă hy sinh bản thân ḿnh sang trại
giặc làm vợ tướng giặc Thoát Hoan khi đất nước đang lâm nguy. Sự hy
sinh của công chúa không được sử sách ghi lại bao nhiêu, cũng không
ai biết công chúa c̣n sống hay đă mất trong cảnh loạn lạc lúc bấy
giờ.
Hoá thân vào vai
công chúa An Tư trong vở Trần Nhân Tông ở chương tŕnh Tự T́nh Quê
Hương , NS Bạch Tuyết đă đặt trọn t́nh thương mến và ḷng cảm phục
vào nhân vật này… để từ đó người xem – thế hệ hậu sinh - có thể cảm
nhận, thấu hiểu, thương cảm và nhớ măi đến công lao, tấm ḷng cao cả
của vị công chúa nhà Trần đă quên ḿnh v́ đất nước Đại Việt.
NS Bạch Tuyết đă
có bài viết về công chúa An Tư : “Hồn Nước
Chở Hồn Người” được đăng tải trên báo Sân
Khấu vừa qua. Sen Hồng xin trân trọng giới thiệu đến các bạn.
SEN HỒNG
15/02/2007 |
“ Sai người đưa công
chúa An Tư đến cho Thoát Hoan là có ư làm giảm bớt tai họa cho nước vậy”. Không
năm sinh, năm mất, Đại Việt sử kư toàn thư chỉ có bấy nhiêu ḍng dành cho
An Tư công chúa. Lục lọi thêm th́ trong An nam chí lược của Lư Trắc (
Trung Quốc) có ghi: “ Trước, thái tử ( chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà
Trần sinh được hai con”, cũng là một “ hồ nghi lịch sử” về thân phận An Tư.
Đấy, tôi chỉ biết
bấy nhiêu về nhân vật của ḿnh, nói đúng hơn là tôi cảm về “ khoảng lặng lịch
sử” mà An Tư công chúa đă vô t́nh bị lăng quên để khi cầm kịch bản Trần Nhân
Tông, tôi thầm cảm ơn một trái tim đa mang trong bút lực Lê Duy Hạnh. Sự có
mặt của An Tư không phải để cân bằng âm – dương cho vở - nàng là nhân vật nữ
trung tâm của vở Trần Nhân Tông mà qua An Tư, Lê Duy Hạnh đă cảm khái
khuôn về tư tưởng và tâm thái của vị vua – thiền sư nhà Trần. Ông đă viết tiếp
lịch sử về cái khoảng lặng từ hơn 700 năm trước, nối dài thân phận An Tư trong
ḷng người hậu thế.
Một giây khắc giật
ḿnh của lịch sử: “- Say chiến thắng, nức ḷng ngày sum họp, vô t́nh hay hữu
ư chẳng mấy ai kịp nhớ đến những con người dạ sắt ḷng son, trọn cuộc đời phải
thay tuổi đổi tên, lặng lẽ giấu ḿnh v́ an b́nh của tổ quốc, v́ ấm no hạnh phúc
của muôn dân nuốt cay ngậm đắng tức tưởi hy sinh…”
Nếu so với 8 năm về
trước, NSƯT Vương Hà ( Nhà hát Cải lương Việt Nam) – khi vào vai Dương Vân Nga
trong một trích đoạn của Hoàng hậu của hai vua th́ độ chín của một đào
thương đă được Vương Hà thể hiện qua An Tư. Hà đẹp về biểu diễn h́nh thể, giọng
Bắc chuẩn sinh ra để hát…ca trù nên khi Hà cất tiếng ca “ Ḍng sông bến nước
khí tụ hồn thiêng. Ánh nến lung linh đất trời nhận diện. Người mất đi người vẫn
c̣n hiển hiện. Đêm nay lại về hội ngộ trên sông”, cả không gian như ngưng
đọng. Cái dáng vẻ thanh cao, vừa trinh nguyên vừa tức tưởi ôm đàn đi vào trại
giặc là một khoảnh khắc Vương Hà hút hồn sân khấu. Tôi chủ đích đồng hiện một
h́nh tượng nghệ thuật thanh tao, đẹp đẽ giữa những tiếng gào, tiếng la và cả
những âm thanh thất thần – báo hiệu cho sự bại trận của đối phương là để biểu
thị cho sự công phá vào tội ác của binh biến. Ngay cả khi đi vào ḷng giặc, An
Tư vẫn tinh khiết. Sự hy sinh của nàng – nếu đă được ư thức trọn vẹn hay cho dù
chỉ là một bước ra đi ngàn dặm th́ đó cũng là một hành động đủ sức lay động và
thức tỉnh lương tri con người.
Khi thực hiện
Tự
t́nh quê hương, điểm nhấn mới lạ của chương tŕnh là An Tư công chúa, tôi
lại chọn cho ḿnh một tư thế biểu diễn trong tư thế dàn dựng. Nếu lịch sử đă vô
t́nh đặt An Tư vào cuộc chinh chiến – nghĩa là nàng đă “ bị động” th́ từ sự bị
động của hoàn cảnh ấy, nhân vật của tôi buộc phải chủ động để tồn tại và “ làm
nên chuyện” trong chính hoàn cảnh bị động ấy.
Điều này, xét về lư lẫn t́nh đều
hợp lẽ bởi nếu dựa vào tinh thần vô ngă của thời đại thịnh vượng Lư – Trần th́
An Tư, hơn ai hết thấm đẫm tư tưởng Thiền “ ḥa quang đồng trần” từ chính cha
của ḿnh là Trần Thái Tông và cháu của ḿnh là Thái tử Khảm – Trần Nhân Tông. Sự
Vô ngă không hề xa rời Bản ngă mà trái lại c̣n vượt lên chính nỗi sợ hăi, sợ đói
rét, sợ kẻ thù, sợ cái chết mà đạt được sự rốt ráo của tinh thần “ chấp ngă”. Để
từ đó, một bóng dáng An Tư “ chân bước xuống thuyền rời đất tổ ra khơi”
mang theo cây đàn trĩu nặng nỗi niềm “ Phách lạc cung sai hắt hiu buồn trại
giặc, vời vợi khúc Nam Ai khoan nhặt trầm hùng” mà mong ước “ Về Nam theo
ngọn gió trời, thắm ḥa với hồn nước non”.
Dù thế, tôi vẫn
không thể không nao ḷng cùng thân phận của nàng. Một lời khẩn khoản của người
con gái đă “ vị quốc vong thân”: “- Hoàng tôn ơi, mai này khi non nước yên
b́nh nhà nhà sum họp, xin hăy thắp dùm nén hương báo hiếu với song đường. Nói
rằng từ hôm nay muôn dân đă thoát kiếp đoạn trường. Với nhà Trần, An Tư tṛn
trung tṛn hiếu…”.
Trong cảm thức lịch
sử, An Tư mờ mờ tỏ tỏ. Trong cảm thức nghệ thuật, “ hồn nước non chở hồn An Tư”
về lại trời Nam. Thiên chức nghệ thuật sẽ là ǵ nếu nó không là cái gạch nối bao
dung, trắc ẩn cho cuộc sống hôm qua và ngày mai.
Bạch Tuyết
Xuân 2007